Get Adobe Flash player

Quảng cáo

Năm mới 2013 gữa

Hỗ trợ trực tuyến

Tổng đài tiếp nhận đăng ký khám: 02193.866.843

Hỗ trợ từ xa

Thống kê truy cập

16442186
Hôm nay
Hôm qua
Tuần trước
Tháng trước
4279
3884
16352289
245234

IP: 54.224.133.198

Đang có 16 khách và không thành viên đang online

GIÁO DỤC SỨC KHỎE BỆNH TRẦM CẢM

GIÁO DỤC SỨC KHỎE BỆNH TRẦM CẢM


I. Tổng quan về bệnh trầm cảm

1. Đại cương về bệnh trầm cảm

Trầm cảm là hiện tượng ức chế của các quá trình hoạt động tâm thần với bệnh cảnh lâm sàng gồm các triệu chứng thường gặp như: nét mặt buồn rầu, ủ rũ, mau mệt mỏi, không muốn làm việc, mất hoặc giảm mọi quan tâm thích thú ngay cả những đam mê thích thú cũ, giảm tập trung chú ý, mất hoặc giảm tự tin, tự đánh giá thấp mình. Quá trình suy nghĩ chậm chạp, ý tưởng nghèo nàn, tự cho mình có tội, bi quan về tương lai. Một số trường hợp trầm cảm nặng, bệnh nhân có thể có ý nghĩ hoặc hành vi tự sát. Trong trầm cảm thường có các triệu chứng của cơ thể như mất ngủ (thường là mất ngủ cuối giấc, thức dậy sớm), hồi hộp, đánh trống ngực, mạch nhanh, đau mỏi xương cơ khớp, sút cân, giảm hoạt động tình dục. Bệnh nhân thường có hội chứng lo âu và những cảm giác căng thẳng, bất an, sợ hãi...

2. Triệu chứng của bệnh trầm cảm

 - Cảm xúc bị ức chế : Là triệu chứng chủ yếu nhất biểu hiện bằng cảm xúc buồn rầu biểu hiện ở các mức độ khác nhau: chán nản, thất vọng, có trạng thái buồn chán nặng nề, sâu sắc, buồn không lối thoát dễ dẫn đến tự sát.

- Tư duy bị ức chế: Quá trình liên tưởng chậm chạp, hồi ức khó khăn, tư duy bị đứt quãng , bi quan, xấu hổ, tủi nhục, bất hạnh, nhiều trường hợp kết tinh thành hoang tưởng bị buộc tội hoặc tự buộc tội dễ dẫn đến tự sát.

+ Bệnh nhân thường nói chậm chạp, trả lời câu hỏi khó khăn, nói nhỏ, thì thào , đôi khi không nói hoàn toàn ngồi một chỗ, có khi rên rỉ, khóc lóc.

+ Bệnh nhân rất dễ tự sát, ý tưởng tự sát dai dẳng và hành vi tự sát có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, nhất là bệnh nhân để diễn biến lâu ngày, nhiều khi bệnh nhân giả vờ khỏi bệnh để về nhà tự sát, lừa thầy thuốc và người thân để thực hiện hành vi tự sát, cho nên phải theo dõi bệnh nhân thật sát sao để ngăn chặn hành vi tự sát.

 - Hoạt động bị ức chế: Bệnh nhân ngồi im hoặc nằm im lìm hàng giờ, nằm ép ở giường hàng ngày, hàng tháng, hoạt động bị ức chế hoặc những hành vi đơn điệu, uể oải.

 - Rối loạn tâm thần khác :

+ Hoang tưởng, ảo giác xuất hiện nhiều hơn trong trường hợp bệnh lâu ngày không điều trị. Nội dung thường là bị tội, tự buộc tội, nghi bệnh.

+ Ảo thanh nghe tiếng nói tố cáo tội lỗi của mình hay báo trước hình phạt, tiếng khóc tiếng than của đám ma.

+ Khả năng chú ý giảm sút do bị ức chế.

- Những rối loạn khác :

+ Nhiều rối loạn thần kinh thực vật, tim mạch như: trương lực mạch giảm, mạch chậm, giảm trương lực cơ, hồi hộp đánh trống ngực, cảm giác nghẹn thở, đổ mồ hôi trộm ... nên dễ bị chẩn đoán nhầm sang các bệnh tim mạch, hô hấp ...

+ Rối loạn tiêu hoá thường xuyên, chán ăn buồn nôn, lưỡi trắng, táo bón, tiêu chảy, viêm loét dạ dày tá tràng... nên dễ nhầm với các bệnh tiêu hoá.

+ Rối loạn tiết niệu như rối loạn tiểu tiện, khó đái, đái rắt... dễ nhầm với các bệnh đường tiết niệu...

 + Rối loạn nội tiết, sinh dục: Phụ nữ thường mất kinh, rối loạn kinh nguyệt, lãnh cảm; nam thường là liệt dương hoặc cường dương, mất hứng thú tình dục...

II. Giáo dục sức khỏe bệnh trầm cảm.

1. Lúc nằm viện

1.1. Gia đình

- Thường xuyên gần gũi, động viên an ủi người bệnh.

- Giải thích, động viên người bệnh yên tâm, tin tưởng vào điều trị.
          - Tạo không khí vui tươi, tránh sang chấn tâm lý người bệnh.

- Tăng cường dẫn bệnh nhân đi dạo, xem ti vi, tham gia lao động liệu pháp và các hoạt động liệu pháp khác …để loại bỏ những ý nghĩ xấu, không muốn sống, những hiểu biết lệch lạc về bệnh tật.

- Thường xuyên gần gũi theo dõi bệnh nhân để phát hiện kịp thời những ý tưởng và hành vi tự sát nếu có.

- Loại bỏ các vật dụng nguy hại đến tính mạng như dao, kéo, dây, khăn dài quá cổ, các vật sắc nhọn…và kiểm tra chặt chẽ việc uống thuốc của bệnh nhân phòng ngừa dấu thuốc để thực hiện hành vi tự sát nếu có.

- Chăm sóc vệ sinh cho bệnh nhân nếu bệnh nhân không tự làm.

- Biết chế độ ăn uống cho bệnh nhân phải đảm bảo đủ năng lượng, đủ chất và vitamin. Nếu bệnh nhân không ăn động viên khuyên giải cho bệnh nhân ăn và báo cáo Điều dưỡng hoặc Bác sĩ để có biện pháp xử trí kịp thời.

1.2. Người bệnh

- Hướng dẫn bệnh nhân tham gia lao động liệu pháp, vui chơi giải trí.

- Giải thích, khuyên giải bệnh nhân loại bỏ ý nghĩ buồn phiền, chán nản cùng hòa đồng với mọi người xung quanh.

- Nên đi lại vận động, không nên ủ rũ buồn phiền ngồi một chỗ.

2. Lúc ra viện

2.1. Gia đình

- Thường xuyên động viên an ủi người bệnh.

- Giúp bệnh nhân sớm tái hòa nhập với cuộc sống cộng đồng.

- Tạo môi trường gia đình xã hội hài hòa, tránh gây sang chấn tâm lý.

- Quản lý thuốc chặt chẽ và bảo quản thuốc nơi khô ráo, đề phòng người bệnh lấy thuốc để thực hiện hành vi tự sát.

- Khi dùng thuốc nếu thấy có dấu hiệu bất thường đưa bệnh nhân đến khám ngay.

2.2. Bệnh nhân:

- Uống thuốc đều theo đơn.

- Tin tưởng vào sự điều trị của thầy thuốc.

- Không sử dụng các chất kích thích.

-----------------------------

Nguyễn Bá Giang - Hoàng Thị Lê

Bệnh Quai bị và cách phòng chống

Nguyên nhân
Quai bị là bệnh lây truyền do virus rất dễ lây truyền và phát triển trong cộng đồng. Thường gặp nhiều vào mùa xuân, hè. Bệnh thường gặp ở trẻ 5-8 tuổi, cả trẻ lớn chưa được tiêm phòng quai bị và lứa tuổi vị thành niên chưa tiêm phòng miễn dịch quai bị, người lớn cũng có thể mắc nhưng ít gặp hơn.
Nguyên nhân mắc bệnh là do Virus Paramyxovirus lây truyền qua đường hô hấp và đường ăn uống, qua những đường nước bọt khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi.
Triệu chứng
Khi mới nhiễm bệnh Quai bị bệnh nhân thấy khó chịu, sợ gió, nhức đầu, đau trước tai, khó nhai ( Xuất hiện khoảng 1-2 ngày ).
Bệnh nhân bị sốt cao 39-40 độ trong 3-4 ngày, chảy nước bọt.
Một bên má ( Tuyến mang tai) bị sưng to, sau một vài ngày lan sang má bên kia gây đau khi nuốt nước bọt.
Chỗ sưng đau nhưng không tấy đỏ, da bóng lên, ấn không lún, không hóa mủ, họng hơi đỏ, lỗ ống Stenon hơi tấy lên.
Biến chứng
Viêm não, viêm màng não
Viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn
Viêm buồng trứng
Vô sinh
Ngoài ra còn có các biến chứng khác như Viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ...
Khi có các dấu hiệu bệnh nói trên, người bệnh cần đến ngay các cơ sở y tế để khám và điều trị sớm tránh để lại các biến chứng nguy hiểm cho người bệnh.

Minh Anh ( St)

Bệnh viện đa khoa tổ chức chương trình tập huấn MERS CoV

Ngày 18.6, Bệnh viện Đa khoa tỉnh tập huấn Hướng dẫn chẩn đoán điều trị, truyền thông phòng chống Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút corona (gọi tắt là MERS-CoV) cho cán bộ của các khoa phòng trong bệnh viện. Dự và chủ trì có BSCKII Vũ Hùng Vương - Phó Giám đốc bệnh viện.
Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới tính đến ngày 17.6, số ca mắc MERS-CoV là 1.313 ca, trong đó 460 trường hợp tử vong. Tình hình dịch bệnh MERS-CoV đang diễn biến phức tạp tại 26 Quốc gia, trong đó Hàn Quốc là nước có tỷ lệ mắc tử vong cao nhất, đa số các trường hợp lây nhiễm là lây chéo ở các Bệnh viện. Tại Việt Nam, đến thời điểm này chưa ghi nhận một trường hợp nào, nhưng mỗi ngày số người Việt Nam và Hàn Quốc nhập cảnh vào các Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất và Nội Bài khá đông. Do đó, nguy cơ nhiễm vi rút MERS-CoV xâm nhập vào Việt Nam là rất cao nếu không có các biện pháp kiểm soát dịch bệnh tốt và quyết liệt ngay từ đầu.
Tại buổi tập huấn các học viên đã được nghe triển khai kế hoạch số 98/KH-UBND ngày 16 tháng 6 của UBND tỉnh về hoạt động phòng chống Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông tỉnh Hà Giang và KH số 230/KH-BVĐK của Bệnh viện, các giảng viên đã hướng dẫn quy trình giám sát và phòng chống dịch bệnh; Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh MERS-CoV; Phân tuyến điều trị; Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe trong phòng chống bệnh MERS-CoV; Cách lấy mẫu, bảo quản bệnh phẩm xét nghiệm, sử dụng trang phục phòng hộ trong phòng chống bệnh MERS-CoV...
Thông qua lớp tập huấn, giúp các học viên nâng cao kiến thức về chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh MERS-CoV, góp phần đảm bảo an toàn, kịp thời khi có dịch bệnh xảy ra tại địa phương.

Tài liệu: Tải về 

                                                                                                        Gia Linh

Điều trị thuốc thải sắt tại bệnh viện đa khoa tỉnh HG

Nhắc đến căn bệnh thiếu máu huyết tán ,Thalasemia là nhớ đến ngay những "đứa trẻ" không bao giờ "được lớn", với các triệu chứng thiếu máu mạn tính, suy dinh dưỡng, đặc biệt các triệu chứng của quá tải sắt hay nhiễm độc sắt mạn tính làm da khô, xạm đen, tổn thương các cơ quan như suy tuyến yên làm chậm phát triển thể chất, suy tuyến sinh dục làm dậy thì muộn, suy tim , xơ gan, suy gan, loãng xương....Trước các biến chứng nguy hiểm trên, để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân không may mắn, ngay từ khi mới thành lập, khoa Huyết Học Lâm Sàng Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Hà Giang đã tiến hành điều trị dùng thuốc thải sắt cho các bệnh nhân trong khoa khi mức Feritin máu > 1000 ng/ml. Qua 6 tháng thực hiện đã có khoảng 30% tổng số bệnh nhân được dùng thuốc thải sắt đường uống, 5 bệnh nhân được áp dụng biện pháp truyền thuốc đường tĩnh mạch theo đợt 3 đến 5 ngày. Sau đợt điều trị kết hợp truyền máu và thải sắt tình trạng lâm sàng của người bệnh được cải thiện nhiều: Bệnh nhân da đỡ xanh xạm, ăn uống tốt, không hoa mắt chóng mặt, đặc biệt chưa có bệnh nhân nào suy gan do quá tải sắt. Về mặt xét nghiệm lượng Feritin trong máu giảm khoảng 30%- 50% so với mức ban đầu. Tuy nhiên do đây là căn bệnh mạn tính, điều trị lâu dài, điều kiện kinh tế của bệnh nhân và gia đình ngày càng suy kiệt nên cần lắm sự sẻ chia, góp sức của cộng đồng, các tổ chức xã hội để có them nhiều người bệnh được truyền máu và dùng thuốc thải sắt hơn, để các em có thể học tập, lao động và làm việc như những bạn bè cùng trang lứa.

Bảng tin

Lịch công tác

Video clip

You must have the Adobe Flash Player installed to view this player.


Copyright © 2013. Bản quyền thuộc về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang.

Địa chỉ: Số 11, tổ 10, Phường Minh Khai, TP Hà Giang, tỉnh Hà Giang.

Điên thoại: 02193.886.411, Fax: 02193.888.020.